I. Đôi nét về tác giả Nguyễn Công Trứ

- Nguyễn Công Trứ (1778- 1858) tự là Tồn Chất, hiệu là Ngộ Trai, biệt hiệu Hi Văn

- Là người có tài năng và nhiệt huyết trên nhiều lĩnh vực từ văn hóa, kinh tế đến chính trị, quân sự. Thế nhưng con đường làm quan lại trắc trở, gập ghềnh, thăng giáng thất thường

- Là người ưa tự do, phóng túng, có cá tính có bản lĩnh, ngông ngạo

- Là người yêu nước thương dân có nhiều đóng góp cho đất nước

- Các tác phẩm chính:

+ các sáng tác chủ yếu bằng chữ Nôm với nhiều thể loại thơ, phú, câu đối, hát nói

+ riêng thơ Đường luật có khoảng 150 bài

- Đặc điểm sáng tác:

+ tập trung vào ba chủ đề chính: chí nam nhi, triết lí sống nhàn, thế thái nhân tình đen bạc

+ Nguyễn Công Trứ là người đầu tiên có công đưa hát nói trở thành thể loại văn học dân tộc

⇒ Cùng với Cao Bá Quát, Nguyễn Công Trứ là một trong hai thi sĩ nổi tiếng nhất của văn học Việt Nam nửa cuối thế kỉ 19

II. Tìm hiểu tác phẩm

1. Bài thơ “Bài ca ngất ngưởng”

Bài ca ngất ngưởng

Vũ trụ nội mạc phi phận sự

Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng

Khi Thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc Đông

Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng

Lúc bình Tây, cờ đại tướng

Có khi về Phủ doãn Thừa Thiên

Đô môn giải tổ chi niên

Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng

Kìa núi nọ phau phau mây trắng

Tay kiếm cung mà nên dạng từ bi

Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi dì

Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng

Được mất dương dương người tái thượng

Khen chê phơi phới ngọn đông phong

 

Khi ca, khi tửu, khi cắc, khi tùng

Không Phật, không tiên, không vướng tục

Chẳng Trái, Nhạc cũng vào phường Hàn, Phú

Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung

Trong triều ai ngất ngưởng như ông!

2. Hoàn cảnh sáng tác

- Được sáng tác sau 1848, khi ông đã cáo quan về hưu và sống cuộc đời tự do nhàn tản.

Bạn đang xem: Bài ca ngất ngưởng thuộc thể loại gì

*
“Bài ca ngất ngưởng” thuộc thể loại gì?" width="783">

3. Bố cục

Gồm 3 phần

Phần 1: 6 câu đầu. Ngất ngưởng trên con đường công danh, sự nghiệp

Phần 2: 12 câu tiếp. Sự ngất ngưởng trong lối sống, suy nghĩ.

Phần 3: Còn lại. Lời khẳng định cá tính của nhà thơ.

4. Ý nghĩa nhan đề:

- Từ ngất ngưởng: thế cao chênh vênh, không vững, nghiêng ngã, tư thế, thái độ cách sống ngang tàng, vượt thế tục của con người.

⇒ Thể hiện cái dáng vẻ của một tinh thần ngạo nghễ, tự coi mình, hơn người, trên thiên hạ. Đây cũng là tư thế chung của toàn bài. Từ đó khẳng định cách sống tự do của bậc tài tử phong lưu, không ngần ngại khẳng định cá tính của mình. Thái độ sống ngất ngưỡng đầy thách thức trước những tôn ti phép tắc khắc kỉ của xã hội phong kiến.

5. Giá trị nội dung

- Bài thơ khẳng định ngất ngưởng là cách Nguyễn Công Trứ thể hiện bản lĩnh cá nhân trong cuộc sống

6. Giá trị nghệ thuật

- Vận dụng thành công thể hát nói.

- Giọng điệu thơ hóm hỉnh, khoa trương, ý vị trào phúng.

- Sử dụng điển tích, điển cố.

III. Đọc – hiểu tác phẩm

1. Cảm hứng chủ đạo của bài thơ

- Tập trung vào từ “ngất ngưởng”

+ Tên nhan đề

+ Lặp lại bốn lần trong bài thơ

-> Nghĩa đen: chỉ sự vật ở độ cao chênh vênh, không vững, nghiêng ngả

-> Nghĩa bóng: cách sống vượt lên trên những khuôn mẫu, gò bó. Thể hiện tính cách, thái độ cách sống ngang tàng của Nguyễn Công Trứ.

2. Những lời tự thuật

a. Quãng đời làm quan

- Trong thời gian làm quan, Nguyễn Công Trứ đã thể hiện thái độ "ngất ngưởng" của mình rất nhiều trong các tác phẩm của ông, như: ông cho rằng kẻ làm trai là phải mang lấy cái nợ và phải tung hoành ngang dọc để trả cho trọn cái nợ ấy

"Vòng trời đất dọc ngang ngang dọc

Nợ tang bồng vay trả trả vay

Chí làm trai Nam Bắc Đông Tây

Cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn bể" 

(Chí anh hùng)

Tuy nhiên, đối với Nguyễn Công Trứ, công danh không chỉ là vinh mà còn là nợ, là trách nhiệm, vì vậy ông coi đó là sự dấn thân tự nguyện đem tự do, tài hoa nhốt vào vòng trói buộc.

=> phù hợp với tâm trạng của con người đã trải qua bao nhiêu phiền luỵ chốn quan trường.

- Câu 1 "Vũ trụ ...phận sự": Mọi việc trong trời đất chẳng có việc nào không phải là phận sự của ta.

=> Thái độ tự tin, ý thức sâu sắc về vai trò, trách nhiệm và tài năng của bản thân.

- Câu 2 "ông Hi văn tài...vào lồng"

=> Ông coi việc nhập thế làm quan như một trói buộc, giam hãm vào lồng.=> phù hợp với nhân cách của ông

- Ông coi việc làm quan là mất tự do vậy mà vẫn ra làm quan : Vì ông coi việc làm quan là một điều kiện, một phương tiện để thể hiện hoài bão vì dân vì nước và tài năng của mình. điều quan trọng là trong một môi trường có nhiều trói buộc, ông vẫn thực hiện được lí tưởng xã hội của mình và vẫn giữ được bản lĩnh, cá tính.

- Lối sống " ngất ngưởng" của Nguyễn Công Trứ được ông thể hiện ngay đoạn đời từ khi ra làm quan, đoạn đời đó được ông tóm gọn trong 4 câu: 3, 4, 5, 6.

- Câu 3, 4, 5, 6 Liệt kê tất cả các sự việc lớn nhỏ, các chức phận ông đã trải qua.

=> Ông có tài năng thực sự và tận tâm với sự nghiệp, không hề luồn cúi để vinh thân phì gia.

+ Nghệ thuật: Hệ thống từ Hán Việt uy nghiêm trang trọng, âm điệu nhịp nhàng, nhiều điệp ngữ => khẳng định tài năng lỗi lạc, địa vị xã hội vẻ vang, xứng đáng một con người xuất chúng.

b. Khi cáo quan

- Câu 7, 8 : Năm cáo quan là một sự kiện lạ, phong cách khác người.

+ Thái độ ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ lúc này như thế nào so với lúc ông đang làm quan tại triều? (đậm nét hơn, vì đã được "tháo củi sổ lòng" thoát khỏi chốn quan trường).

+ Ngày "đô môn giải tổ" của ông rất đặc biệt : Nguyễn Công Trứ làm một việc ngược đời, đối nghịch. Người ta tán lọng, ngựa xe nghiêm trang, còn ông thì ngất ngưởng trên lưng con bò. Đã là một giống vật thấp kém, bò mà lại bò cái, nhưng lại được trang sức bằng đạc ngựa - đồ trang sức quý của loài vật cao cấp ( ngựa). Song ông còn buộc mo cau vào đuôi bò ở cái chỗ cần che nhất với một tuyên ngôn ngạo ngược: để che miệng thế gian =>trêu ngươi khinh thị cả thế gian kinh kì.

- Câu 9 - 12: Cách sống phóng khoáng, thảnh thơi.

+ Dẫn các cô gái trẻ lên chơi chùa, đi hát ả đào và tự đánh giá cao các việc làm ấy.

+ Ông có quyền ngất ngưởng vì ông về hưu trong danh dự, sau khi đã làm được nhiều việc có ích cho dân...

+ " Kìa núi nọ...mây trắng": câu thơ trữ tình gợi một chút bâng khuâng, ý vị chua chát, những làn mây trắng trên đỉnh núi rất trắng, đậm ý nghĩa tượng trưng, gợi liên tưởng.

+ "Tay kiếm cung ...từ bi": cương vị, chức phận, cuộc sống đã thay đổi. Tay kiếm cung - một ông tướng có quyền sinh quyền sát dạng từ bi: dáng vẻ tu hành, trái hẳn với trước.

- Câu 13 - 16: Quan niệm sống:

+ Không quan tâm được mất

+ Không bận lòng khen chê

+ Vui vẻ, không vướng tục

- Câu 13 - 16, ông là người không quan tâm đến chuyện được mất, không bận lòng vì sự khen chê, có những khi hành lạc: uống rượu, cô đầu, con hát, nhưng ông không phải là người của phật, mà vẫn là con người của cuộc đời, duy có điều: không vướng tục

+ Một nhân cách, một bản lĩnh cao, chấp tất cả, không để luỵ và khinh tất cả những gì của thói thường.

- Câu 17, 18: Tổng kết cuộc đời mình, Nguyễn Công Trứ cho rằng hai điều quan trọng nhất đối với kẻ nam nhi là trách nhiệm "kinh bang tế thế" và đạo nghĩa vua tôi. Ông đã giữ được trọn vẹn, đã thực hiện một cách xuất sắc.

- Khi làm quan trong triều, ông cũng không chấp nhận sự khom lưng, uốn gối hay thói quỵ luỵ thường thấy " trong triều ai...như ông"Khẳng định tài năng, phẩm giá, lòng trung nghĩa vua tôi. Tấm lòng và lời thề của tác giả suốt đời vì dân vì nước.

Xem thêm: Bài Thơ “ Sông Núi Nước Nam Thuộc Thể Thơ Nào ? Trả Lòi Giúp Mk Nhé

- Câu cuối: vừa hỏi vừa khẳng định: trong triều không có ai sống ngất ngưởng như ông cả.=> Bản lĩnh cá nhân trong cuộc sống.